Tuồng, nghệ thuật của sự phơi bày tâm can

Hồ Trung Tú

Tạp chí Xưa&Nay, số 571, tháng 1 năm 2025

Nghệ thuật tuồng đã manh nha hình thành từ thời phong kiến, trải qua nhiều thế kỷ hoàn thiện và biến đổi. Trong các sách sử và sách ghi lễ nhạc thời Lý, Trần, nghệ thuật tuồng đã phát triển và phồn thịnh từ thời nhà Nguyễn và đi cùng với dân tộc ta theo suốt chiều dài lịch sử. Dĩ nhiên, cũng không thể phủ nhận nghệ thuật tuồng đã ảnh hưởng từ nghệ thuật hý khúc Trung Quốc.

Đổng Kim Lân trong một tình huống bi thiết. Ảnh do tác giả cung cấp

Tuồng có giống hý khúc Trung Quốc không?

Tại sao tuồng lại chưa được làm hồ sơ để UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại? Có những chuyên gia quan tâm và đặt vấn đề tiến hành làm hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể cho tuồng nhưng nhiều cán bộ chuyên trách ở Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch cản lại vì thấy nó quá giống hý khúc của Trung Quốc, nên ngại! Nếu quả thật vậy thì thật là đáng tiếc, bởi vì thoạt nhìn vào các nhân vật tuồng thì về mặt trang phục, hoặc ngay cả nội dung, các kịch bản tuồng cổ thường hay lấy các tích truyện từ các truyện sử, tiểu thuyết chương hồi, điển cố điển tích trong các văn thơ cổ của Trung Hoa để sáng tác kịch bản. Do đó, khi nhắc đến nghệ thuật tuồng thì mọi người thường bảo nó khá giống với sân khấu của Trung Quốc. Thế nhưng khi xem các diễn viên biểu diễn và nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn của tuồng thì rõ ràng là hai câu chuyện, hai loại hình nghệ thuật sân khấu khác hẳn nhau.

Nghệ thuật tuồng đã manh nha hình thành từ thời phong kiến, trải qua nhiều thế kỷ hoàn thiện và biến đổi. Trong các sách sử và sách ghi lễ nhạc thời Lý, Trần, nghệ thuật tuồng đã phát triển và phồn thịnh từ thời nhà Nguyễn và đi cùng với dân tộc ta theo suốt chiều dài lịch sử. Dĩ nhiên, cũng không thể phủ nhận nghệ thuật tuồng đã ảnh hưởng từ nghệ thuật hý khúc Trung Quốc. Vâng, dầu có xuất phát từ đâu và chịu ảnh hưởng từ hý khúc Trung Quốc đi chăng nữa thì nghệ thuật tuồng cũng đã gắn bó với dân tộc ta suốt một ngàn năm qua, nó giữ và truyền cái yêu cái ghét, cái độ nhạy rung cảm của tâm hồn người Việt truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác.

 Hý khúc của Trung Quốc, nặng về hát và thiên về biểu diễn trình thức vũ đạo, nghệ thuật biểu diễn của diễn viên chủ yếu dùng hình thể để bộc lộ tính cách nhân vật mà không đi sâu mô tả nội tâm nhân vật, nghệ thuật phơi bày tâm can cho người xem như nghệ thuật hát bội.

Để hiểu tuồng

Lâu nay, cứ nói đến nghệ thuật tuồng thì hầu như ở đâu và bao giờ người ta cũng lại nói đến việc bảo tồn di sản, phải kế thừa truyền thống, phát huy nghệ thuật cổ truyền của dân tộc,… Nhưng suốt chừng ấy năm qua, nghệ thuật tuồng vẫn đang loay hoay chưa biết phải kế thừa và phát huy nó như thế nào để phù hợp với xã hội hiện đại. Nhiều vở tuồng được chuyển thể và dàn dựng từ tác phẩm sân khấu kinh điển của thế giới như Êđíp làm vua, Ôtenlô, Tarát Bumba, Le Cid,… Sân khấu đã dần mất đi tính ước lệ, cách điệu, mà thay vào đó là tả thực: Ánh sáng sân khấu thì đèn chớp sáng đủ màu, những màn đấu võ bay lượn như phim hành động, thậm chí một con voi đã được dắt lên sân khấu trong vở Quang Trung đại phá quân Thanh… Rõ ràng, những cố gắng cải tiến ấy là xuất phát từ sự không hiểu tuồng là gì. Chúng ta hãy cùng cố hiểu nó:

Chuyện kể, có một diễn viên diễn vai Đổng Kim Lân hay đến nỗi bà phi của một vị hoàng thân nọ của triều Nguyễn mê như điếu đổ, đến mức phải phụ chồng mới thỏa tấm lòng vì nghệ thuật hát bội. Chuyện bại lộ, nhưng vị hoàng thân nọ không nỡ chém tên “gian phu” ấy, ông nói: “Chém mi rồi thì ai diễn Đổng Kim Lân cho mệ xem?”. Qua câu chuyện có thể thấy rằng, vị hoàng thân nọ đã xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần vở tuồng Sơn Hậu mà không hề thấy chán. Trong khi đó, một bộ phim hay nhất của Hollywood cũng thành ra tra tấn nếu buộc phải xem lại lần thứ hai. Điều gì làm nên cái sự tuyệt vời ấy của nghệ thuật tuồng?

Nếu chúng ta hôm nay đã quen với cách thưởng thức nghệ thuật thiên về tình huống, tiếp nhận thông tin mới và chỉ có thông tin mới, thì cha ông ta ngày xưa lại có cách thưởng thức khác, đó là: Nội dung biết rồi, thậm chí đã xem hàng trăm lần nhưng vẫn hào hứng xem lại, vì cha ông ta chỉ xem biểu diễn chứ không xem tình huống hoặc chờ đợi tiếp nhận thông tin mới. Với cách thưởng thức này, người xem không hề thụ động mà trở thành một giám khảo có thể cảm nhận được những nét diễn tinh tế nhất và bình phẩm nó thông qua chiếc trống chầu. Như vậy là khán giả đến với sân khấu hát bội đồng thời cũng mang theo cả sự hiểu biết về cuộc sống mà họ đã nếm trải.

Nếu cải lương, chèo hoặc các loại hình dân ca kịch khác thiên về hát, thì tuồng là nghệ thuật của sự biểu diễn. Nói chính xác hơn, nghệ thuật tuồng là nghệ thuật sân khấu toàn diện, nó cho phép diễn viên mô tả một cách đặc sắc tâm hồn của nhân vật thông qua nghệ thuật ca, những động tác của cơ thể với một loại ngôn ngữ sân khấu khá độc đáo. Để dễ hình dung, có thể dùng hình tượng chiếc kính lúp để ví với ngôn ngữ nghệ thuật sân khấu tuồng. Với chiếc kính lúp, ta nhìn mọi vật đều lớn hơn bình thường, ngôn ngữ nghệ thuật tuồng cũng vậy, nó khuếch đại tất cả mọi diễn biến tâm lý và người xem như nhìn thấy tất cả “ruột gan” nhân vật. Chính vì thế, nghệ thuật tuồng rất thích hợp với các tình huống bi thiết, uẩn khúc, tâm trạng và những nỗi đau lớn. Cái “ruột gan” được phơi bày ở đây mang vẻ đẹp của những viên ngọc quý trong tâm hồn con người và vì thế mà người ta xem đi xem lại, ngắm đi ngắm lại hàng trăm lần không biết chán.

Vì sao tuồng lại cần ước lệ?

Với cách nhìn này, chúng ta dễ dàng hiểu được những cái như là bí ẩn, khó hiểu của nghệ thuật tuồng, ví dụ như là vẽ mặt nạ và các đạo cụ như râu, cờ (cắm sau lưng), đôi hia, ngựa,… Tất cả đều giúp người diễn viên cách điệu các động tác và qua đó tâm lý nhân vật cũng được cách điệu lên. Chúng ta hãy thử hình dung tâm hồn của con người ta trong những tình huống như Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan, Đổng Kim Lân biệt mẹ… được cách điệu lên, khi mà cái đau, cái bi tráng, cái uẩn khúc của tâm trạng đều được bộc lộ ra và nhìn thấy rõ ở đầu ngón tay, đầu mũi hia. Cách run tay, run chân, cách chỉ ngón, đi hia, vuốt râu, trợn mắt,… tất tất đều một mục đích tối hậu và duy nhất là để người xem nhìn thấy cái sắc thái tâm lý, hay nói cách khác là cái tâm hồn của nhân vật. Mặt đen, mặt đỏ, râu ngắn, râu dài,… tất thảy cũng đều vì cái mục đích ấy. Người xem không phải mất thời gian đoán già đoán non rằng đó là người trung hay tên nịnh, kẻ ác hay người hiền mà đi ngay vào việc nhìn ngắm cái tâm hồn phía trong cái mặt đen, mặt đỏ, râu ngắn, râu dài ấy.

Hai người này đang cưỡi ngựa và rõ ràng nội tâm, tình cảm của họ là thứ đáng để quan tâm hơn là chuyện con ngựa màu gì. Ảnh do tác giả cung cấp

Ngay cả ở cách hát thì tuồng cũng khác với cải lương hay chèo nhiều lắm. Nếu cải lương, chèo thiên về biểu diễn chất giọng của diễn viên thì ở tuồng đó là sự lột tả quá trình diễn biến tâm trạng của nhân vật. Ví dụ mà các nhà nghiên cứu hay đưa ra là câu nói lối của Hoàng Phi Hổ khi ngóng trông vợ vào cung gặp vua Trụ vốn là ông vua dâm dục: “Từ phu nhân gác giá. Hầu Khánh đản cung trung. Trời đã xế vừng hồng. Sao chưa về phủ tía…”. Thường những diễn viên không sành nghề không sao diễn tả được cái tâm trạng lo âu của nhân vật, họ chỉ lo hát sao cho ngọt cho mùi là đạt mục đích. Cái chữ vừng hồng phải hát lên như là hỏi đất hỏi trời, hỏi cả cái lòng kẻ quân tử sao trời lại bắt phải rơi vào cái cảnh ngộ éo le đến thế. Các bạn thử nói một mình mà diễn tả cho hết cái tâm can ấy thử xem?

Và vì thế chúng ta cũng chợt hiểu vai trò của chiếc trống chầu, cái thứ khá ồn ào không thể xuất hiện trong kịch hoặc cải lương, nó tham gia vào diễn xuất bằng cách bình phẩm. Như vậy là khán giả đến với sân khấu hát bội đồng thời cũng phải thuộc tích tuồng và mang theo cả sự hiểu biết về cuộc sống mà họ đã nếm trải, mang theo cả cái tình cảm yêu ghét mà họ đã kế thừa từ cha ông. Họ bình phẩm và vì vậy họ tham gia vào diễn xuất, không còn màng đến cốt truyện nữa, họ như nhẩm hát, nhẩm nói theo nhân vật và sẽ sung sướng đến tê người mỗi khi diễn viên xuất sắc lột tả được một nét tinh tế nào đó của tâm lý nhân vật.

Tóm lại, có thể nói rằng tất cả những gì độc đáo trong ngôn ngữ nghệ thuật tuồng đều dường như xuất phát từ mục tiêu là tạo điều kiện cao nhất cho người diễn viên phô diễn tài nghệ diễn xuất. Các mô hình nhân vật như đào, kép, lão, mụ,… các đạo cụ, vẽ mặt, cách hát và động tác vũ đạo khi ra sân khấu sẽ trở thành những tín hiệu ước lệ để người xem thoạt nhìn đã có thể biết ngay đó là con người ở tầng lớp nào, trung hay nịnh, làm ruộng hay chài lưới, lính hay quan, văn hay võ,… Thoạt nhìn nó như đơn điệu nhưng lại vô cùng cần thiết để người xem không phải đoán mà nhập ngay vào diễn xuất của diễn viên (không như điện ảnh, hoặc kịch nói, tên giết người xuất hiện đó nhưng chẳng ai biết). Tương tự như vậy, nghệ thuật ước lệ cũng chính là sự tiết giản tối đa cảnh trí sân khấu để mọi chú ý được dồn vào diễn xuất. Xét cho cùng thì tuồng làm điều đó là chính xác. Người xem đâu cần quan tâm đến con ngựa màu gì mà chỉ muốn biết cái tâm trạng của người đang cưỡi trên cái con ngựa đó như thế nào. Tương tự như vậy, sông núi, chiến trường, núi cao, đèo thấp,… tức ngoại cảnh hoàn toàn không đáng và không nên dựng lên trên sân khấu, diễn viên sẽ là cái tấm gương phản chiếu tất cả cái ngoại cảnh ấy nếu nó thực sự có cái gì đó đáng để nói.

Kể ra xét ở góc độ nào đó thì tuồng khá là dân chủ, nó đặt người xem lên trên mọi thứ, trên cả tình huống, cốt  truyện, nhân vật, diễn xuất,… người xem còn cao hơn cả Thượng Đế, như bây giờ chúng ta hay nói, người xem là ông tổ, vừa xem vừa sáng tạo ra nghệ thuật tuồng! Theo truyền thuyết, tổ của nghệ thuật tuồng là một cậu Hoàng con, vì say mê xem hát bội, vở diễn xong rồi vẫn không muốn về, nằm lại trên chái rạp mà sống cùng các nhân vật. Cuối cùng, khi mọi người phát hiện ra thì thân xác cậu đã héo khô trên mái rạp. Nói cách khác, tổ của nghệ thuật tuồng chính là khán giả.

Để tuồng sống lại

Hiểu đúng tuồng, chúng ta không chỉ là không ngần ngại khi nói với UNESCO rằng đó không phải là  hý khúc Trung Quốc. Và còn quan trọng hơn như thế rất nhiều nữa là người xem trở lại xem tuồng, như cha ông ta xưa.

Nên chăng, liên hoan của sân khấu tuồng là liên hoan của các trích đoạn, hoặc đó là cuộc liên hoan của một vở duy nhất và tất cả các đoàn đều phải diễn vở ấy với những bí mật dàn dựng của riêng mình? Không hiểu sao tôi vẫn tin rằng ban giám khảo sẽ không hề thấy chán một lúc phải xem đi xem lại một vở duy nhất. Vị Hoàng thân nọ đã chẳng xem vở Sơn Hậu hàng trăm lần đấy sao? Đó là khoái cảm gì vậy?

Và phía người xem, những vị tổ của nghệ thuật tuồng, nhất là các bạn trẻ, các bạn hãy cố gắng thử một lần đến với sân khấu tuồng đích thực, nhưng trước hết để không phải chán rồi nản luôn, các bạn cần phải biết, đến thuộc lòng càng tốt, vở tuồng mà mình sẽ xem. Và điều nữa, chính vì ngày xưa không có loa, muốn hát cho người ở xa cũng nghe được, như opera của phương Tây, diễn viên phải hát bằng giọng vang xa. Giờ có loa, cách hát đó đâm ra khó nghe. Thêm nữa, phần lớn các vở tuồng cổ đều dùng nhiều từ Hán Việt, có nghe rõ lớp trẻ cũng không hiểu. Nên chăng, các nhà hát tuồng nên chạy chữ phụ đề, việc không hề khó với công nghệ hiện nay.

Bài liên quan

Bài đăng mới